Các Cấp Độ Sâu Sắc Nhất, Hiển Nhiên Và Đại Diện Của Tam Bảo

Các Cấp Độ Của Phật, Pháp Và Tăng

Trong cuộc thảo luận từ đầu đến đây, chúng ta đã thấy cấu trúc chung về cách thiền quán về quy y, đưa phương hướng an toàn vào trong đời sống. Bây giờ, chúng ta có thể nói một cách cụ thể phương hướng này đang đi đến đâu. Điều này được Phật, Pháp và Tăng, Tam Bảo Quý Hiếm, mô tả và biểu thị. Đối với mỗi một Bảo, có một cấp độ sâu sắc nhất, một cấp độ hiển nhiên, là cấp độ mà mình có thể thấy hay nghe, rồi một cấp độ đại diện cho nó. Việc phân biệt ba cấp độ khác nhau này là điều quan trọng.

Cấp độ sâu sắc nhất của mỗi một trong ba điều này đều đề cập đến diệu đế thứ ba và thứ tư – cụ thể là diệt đế và đạo đế – nhưng từ những quan điểm hơi khác nhau. Chúng là cấp độ sâu sắc nhất của những gì mình hướng đến; nói cách khác là việc thành tựu chúng là phương hướng mà mình muốn noi theo. Nếu thành tựu được chúng, thì mình sẽ thoát khỏi mọi khó khăn hay vấn đề, trong tự thân hay ứng xử với người khác.

Cấp độ sâu sắc nhất của Phật Bảo là các diệt đế và đạo đế trong dòng tâm thức của một vị Phật. Tất cả các phẩm hạnh trong tâm Phật đều là kết quả của hai điều này. Vì vậy, khi học hỏi về các phẩm hạnh trong tâm Phật, và vì vậy phó thác bản thân cho một vị Phật và tuân theo hướng dẫn của Ngài để tu tập các phương pháp đoạn diệt mọi khổ đau và nhân tạo khổ, thì thật ra mình đang phó thác bản thân cho các diệt đế và đạo đế trong dòng tâm thức của một vị Phật.

Nói chung, khi nói về tứ diệu đế, chúng ta đang nói về những điều xảy ra trong một dòng tâm thức cá nhân và được trải nghiệm bằng tâm thức; chứ không nói về điều gì trừu tượng. Ví dụ, hai diệu đế đầu, khổ đế và tập đế, là những điều mà tất cả chúng ta đều trải nghiệm. Nhưng mình muốn thành tựu diệt đế của chúng, có nghĩa là hoàn toàn diệt khổ và nhân tạo khổ. Diệt đế này xảy ra ở đâu? Nó cũng xảy ra trong một dòng tâm thức, mà về mặt bản tánh thì không có các khổ đế và tập đế. Diệt đế của chúng có nghĩa là chúng không còn hiện diện trong dòng tâm thức, nên không còn được trải nghiệm nữa.

Làm thế nào để đạt được một diệt đế như vậy? Bằng nhận thức vô niệm về tánh Không, cũng trong tâm thức. Nhận thức vô niệm này được gọi là một “đạo đế”. Nói cách khác, đó là một nhận thức dẫn đến nơi nào đó; nó dẫn đến các diệt đế. Đó là lý do tôi gọi nó là một "đạo lộ tâm thức". Tuy nhiên, các đạo lộ tâm thức không chỉ là những nhận thức vô niệm dẫn đến các diệt đế, mà còn là những loại nhận thức  được thành tựu như kết quả của việc thành tựu các diệt đế.

Thế thì đây là tứ diệu đế - khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế, và chúng đều xảy ra trong một dòng tâm thức.

Nếu muốn tự tin mình có thể tự thành tựu các diệt đế và đạo đế, thì phải xem gương của những người đã thành tựu chúng; phó thác bản thân cho sự dìu dắt của chư vị, rồi noi theo phương hướng mà họ nêu ra. Thế thì cấp độ sâu sắc nhất của Tam Bảo là các diệt đế và đạo đế trong dòng tâm thức của những người đã thành tựu chúng.

Chư Phật là những người sở hữu trọn vẹn tất cả các diệt đế và tất cả các đạo đế trong dòng tâm thức. Chư Thánh nhân và A la hán là những người sở hữu một số diệt đế và đạo đế, chứ không phải tất cả, trong dòng tâm thức của họ. Vậy thì Phật Bảo sâu sắc nhất chính là các diệt đế và đạo đế trong dòng tâm thức của chư Phật; và theo một nguồn kinh điển, cả Pháp Bảo và Tăng Bảo sâu sắc nhất đều là các diệt đế và đạo đế trong dòng tâm thức của tất cả Thánh nhân, bao gồm cả A la hán và chư Phật. Hãy để cho điều này lắng đọng một chút.

[Thiền]

Các Cấp Độ Sâu Sắc Nhất, Hiển Nhiên Và Đại Diện Của Tam Bảo

Nguyên bộ của tất cả diệt đế và tất cả đạo đế trong dòng tâm thức của một vị Phật – nói cách khác là Phật Bảo sâu sắc nhất – thật ra là Pháp thân của một vị Phật, Thân Bao Trùm Tất Cả. Pháp thân có hai khía cạnh. Pháp Thân Trí Tuệ của một vị Phật – Jnana Dharmakaya – đề cập đến các đạo đế trong dòng tâm thức toàn tri của một vị Phật; Pháp Thân Tự Tánh của một vị Phật – Svabhavakaya – đề cập đến các diệt đế trong tâm toàn tri của một vị Phật. Cụ thể hơn thì Svabhavakaya là tánh thanh tịnh kép của tâm Phật, được tách rời với ô trược của phiền não và tách rời một cách tự nhiên với ô trược của sự tồn tại tự thiết lập. Tánh thanh tịnh tự nhiên đó là tánh Không của tâm toàn tri của một vị Phật. Thế thì Pháp thân là diệu đế thứ ba và thứ tư trong tâm của một vị Phật. 

Phật Bảo hiển nhiên là những gì chúng ta có thể thấy; cụ thể là các Thân Tướng của một vị Phật, hay Sắc thân. Chúng bao gồm các Báo thân (Sambhogakaya), là các thân thọ dụng giáo lý Đại thừa, và các Hóa thân (Nirmanakaya), là hóa thân của các Báo thân. Ba mươi hai tướng tốt và tám mươi tướng phụ của các thân của chư Phật Báo thân và Hóa thân Tối thượng cho thấy những thiện hạnh mà một vị Phật đã hành trì trong những kiếp trước, đưa đến việc thành tựu một thân như vậy. Theo cách này, các tướng tốt và tướng phụ này cũng nêu ra phương hướng mà mình muốn noi theo. Do đó, ta có thể phó thác tự thân cho sự dìu dắt của những Sắc thân này.

Điều đại diện cho Phật Bảo là tranh và tượng Phật. Điều quan trọng là hiểu rằng chúng chỉ là những đại diện; mình không tôn sùng chúng hay bất cứ điều gì. Tuy nhiên, mình tôn trọng chúng, vì chúng đại diện cho điều mình tôn trọng.

Pháp Bảo sâu sắc nhất lại là diệu đế thứ ba và thứ tư, nhưng hiện nay, không chỉ là những diệu đế trong dòng tâm thức toàn tri của một vị Phật, mà là tất cả những diệu đế xuất hiện trong dòng tâm thức của tất cả chư vị Thánh nhân, cư sĩ và Tăng sĩ. “Tất cả chư vị Thánh nhân” bao gồm tất cả những người có ít nhất một vài chân đạo và chân diệt trong dòng tâm thức, bắt đầu từ những ai đã thành tựu tâm kiến đạo, cái gọi là “kiến đạo”, những người đã đạt được một phần các cặp chân đạo và chân diệt, cho đến và kể cả chư Phật, những vị đã thành tựu trọn vẹn cả hai.

Pháp Bảo hiển nhiên, đó là điều chúng ta có thể lắng nghe, là giáo huấn đích thực - giáo huấn của Phật được phân loại thành mười hai loại Kinh điển. Mình phó thác bản thân cho chúng, để chúng là sự hướng dẫn đích thực. Điều đại diện cho chúng là sách Phật và các bản văn Phật pháp, có nội dung là Pháp Bảo hiển nhiên. Chúng ta cũng tôn trọng những điều này như vậy. 

Như đã đề cập, Tăng Bảo sâu sắc nhất cũng chính là Pháp Bảo sâu sắc nhất, diệu đế thứ ba và thứ tư trong dòng tâm thức của tất cả Thánh nhân. Tăng Bảo hiển nhiên, đó là những gì chúng ta có thể nhìn thấy, là các bậc Thánh nhân. Họ là những người nêu gương, vì vậy có thể chỉ cho mình hướng đi. Thật khó để liên hệ với một vị Phật, nhưng qua tấm gương của các bậc Thánh nhân, từng bước một, ta có thể học cách thành tựu Phật quả.

Điều đại diện cho Tăng đoàn là một nhóm gồm bốn vị Tỳ kheo hoặc Tỳ kheo Ni trở lên. Các vị này không nhất thiết phải trong cùng một nhóm – chỉ cần bốn người, để có một cộng đồng. Ngay cả khi họ không phải là những vị Tỳ kheo hay Tỳ kheo Ni quá tốt đẹp, thì dù sao đi nữa. việc họ từ bỏ đời sống gia đình là điều quan trọng. Họ đang cống hiến bản thân cho đường tu này, điều đó cho ta thấy có những bước đi để đạt được mục tiêu này. Điều đó cũng cho thấy rằng, ít nhất là về mặt lý thuyết, có những người đang nỗ lực hướng về điều đó. Do đó, tất cả các vị Tỳ kheo và Tỳ kheo Ni đều là đối tượng đáng tôn kính.

Nếu ôn lại thì đối với mỗi một Bảo trong Tam Bảo, đều có những cấp độ sâu sắc nhất, hiển nhiên và đại diện. Cấp độ sâu sắc nhất là các chân diệt và chân đạo, một là trong dòng tâm thức toàn tri của một vị Phật, trong trường hợp Phật Bảo, hai là trong dòng tâm thức của bất kỳ vị Thánh nhân nào, cho đến và bao gồm cả tâm thức của một vị Phật, trong trường hợp Pháp Bảo và Tăng Bảo. Các Bảo ở cấp độ hiển nhiên, là các Bảo mà ta có thể thấy hoặc lắng nghe, là Sắc Thân của một vị Phật, giáo lý đích thực, và cộng đồng của những người đã trở thành Thánh nhân. Các Bảo đại diện, mà chúng ta có thể có trong nhà hay gần đó, là tranh vẽ và tượng Phật, sách vở giáo pháp, và chư Tỳ kheo và Tỳ Kheo Ni. Chúng nhắc nhở ta về con đường và mục tiêu mà mình đang hướng tới, các Bảo sâu sắc nhất.

Những người đã thành tựu các Bảo sâu sắc nhất có thể chỉ cho ta con đường; tuy nhiên, mình đang hướng về những gì họ đã đạt được, trong dòng tâm thức của riêng mình. Chúng ta không nhắm vào những gì trong dòng tâm thức của họ, vì chỉ có thể đạt được những gì trong dòng tâm thức của riêng mình. Đây là điều chúng ta đã thảo luận cho đến nay – việc chấm dứt các nguyên nhân tạo ra vấn đề và chấm dứt những vấn đề mà chúng tạo ra: hành vi phá hoại, cảm xúc phiền não, hành vi tích cực cưỡng chế, hay giúp đỡ khi không ai muốn được giúp, v.v…  Chúng ta cũng muốn một chân diệt về việc không biết cách giúp đỡ người khác. Chúng ta muốn có sự hiểu biết, kỷ luật, định tâm, lòng từ và bi, và tất cả những điều này sẽ chấm dứt những điều gây rối. Tất cả những gì mình đã nói đều hướng về diệu đế thứ ba và thứ tư, và đoạn trừ diệu đế thứ nhất và thứ hai. Đây chính là tất cả những điều trong đạo Phật. Tất cả đều diễn ra trong tâm thức, tâm thức của mình. Hãy để cho điều đó lắng đọng một chút.

[Thiền]

Sự Khác Biệt Giữa Phật Bảo, Pháp Bảo Và Tăng Bảo Sâu Sắc Nhất

Câu hỏi sẽ phát sinh một cách tự nhiên là: Đâu là sự khác biệt giữa Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo sâu sắc nhất? Tại sao mình có điều gần như giống nhau, diệu đế thứ ba và thứ tư, như Bảo sâu sắc nhất cho cả Tam Bảo?

Chúng ta tìm thấy giải đáp ở một nơi bất ngờ: trong Lama Chopa – Guru Puja – trong phần cúng dường tsog. Khi cúng dường Phật, Pháp và Tăng, bản văn nói rằng chư Phật là cội nguồn của thành tựu thật sự, Pháp là nguồn cảm hứng, và Tăng là cội nguồn của ảnh hưởng giác ngộ, hay công hạnh giác ngộ, bởi vì ta thỉnh cầu mỗi một điều này theo đúng thứ tự, từ Phật, Pháp và Tăng. Ở đó, Tăng được đại diện bằng các dakini (không hành nữ) và Hộ Pháp.

Tất cả những điều này có nghĩa gì? Thật ra, việc nghĩ về điều này rất hữu ích. Chư Phật có thành tựu viên mãn thật sự về các chân diệt và chân đạo mà mình đang hướng về. Những thành tựu thật sự được gọi là siddhi trong tiếng Phạn. Pháp Bảo sâu sắc nhất, chân diệt và chân đạo của toàn thể Thánh nhân, tất cả đều là nguồn cảm hứng. Ở đây, thuật ngữ adhisthana trong tiếng Phạn, chinlab trong tiếng Tây Tạng, thường được dịch là “gia trì”, nhưng tôi nghĩ “cảm hứng” gần với ý nghĩa hơn, đó là điều gì khiến mình thăng hoa. Các chân diệt và chân đạo của tất cả Thánh nhân tạo nên Tăng Bảo sâu sắc nhất, là nguồn ảnh hưởng giác ngộ. Chúng tạo ảnh hưởng cho mình, để noi theo phương hướng của chư vị.

Ở cấp độ Tam Bảo hiển nhiên, gương của chư Thánh nhân cũng có ảnh hưởng giác ngộ đối với mình, để tu tập và noi theo phương hướng mà các ngài nêu ra, như chư vị đã làm. Giáo pháp truyền cảm hứng để mình noi theo giáo huấn. Các Sắc thân của chư Phật chỉ cho ta cách để tự mình đạt được các thành tựu thật sự này.

Từ một quan điểm khác, ai và điều gì sẽ giúp mình? Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong sắc thái Sắc thân, giáo huấn thực thụ mà Ngài thuyết và Tăng đoàn Thánh nhân là những vị đã tiến xa trên đường tu – nên đó là cấp độ Tam Bảo hiển nhiên.

Điều gì sẽ giúp mình luôn chánh niệm về các Bảo này? Những thứ đại diện cho các Bảo mà mình có là: tranh vẽ và tượng Phật, sách Phật pháp, và chư Tăng Ni. Chúng nhắc nhở mình noi theo phương hướng an toàn của chúng. Bằng cách thể hiện lòng tôn kính với chúng, ta cũng đang tôn trọng những gì mình đang cố gắng làm với đời sống của mình.

Hơn nữa, thể hiện lòng tôn trọng với người khác là một cách để phát triển lòng tôn trọng bản thân, vì chính mình cũng đang cố gắng đạt được điều đó. Yếu tố quan trọng là lòng tôn trọng, rằng mình nhận ra những phẩm chất tốt đẹp ở điều gì, ngưỡng mộ chúng, và muốn đạt được những phẩm chất đó cho chính mình. Đó là tại sao tôi nói về giá trị bản thân. Nếu chỉ cần một hành động tử tế đơn giản với ai đó, mà mình khiến cho họ mỉm cười, ta có thể tạo ra một sự khác biệt nhỏ và tích cực. Hành động tích cực này mang lại cho mình cảm giác về giá trị bản thân, dẫn đến lòng tự trọng.

Chỉ bổ sung thêm một điểm nữa: quy y nhân là các chân diệt và chân đạo đế đã xảy ra trong dòng tâm thức của chư Phật và thánh nhân, trong khi quy y quả nằm trong cái mà ta đang hướng đến, để thành tựu trong dòng tâm thức của mình.

Hãy cố gắng nghiền ngẫm tất cả những điều này.

[Thiền]

Câu Hỏi

Về mặt lý trí, tôi hiểu rằng chúng ta có khả năng đối phó với sợ hãi và trầm cảm, nhưng sâu thẳm bên trong, tôi không có niềm tin này. Làm thế nào tôi có thể nuôi dưỡng sự hiểu biết này, sự tự tin này, sâu thẳm bên trong?

Đó là một câu hỏi rất hay. Làm thế nào để đi từ sự hiểu biết về mặt trí thức đến sự hiểu biết bằng cảm xúc thật sự, để tạo ra sự chuyển hóa trong bản thân, bởi vì chúng ta cần cả hai yếu tố trí thức và cảm xúc trong sự hiểu biết của mình? Hai yếu tố này giống như trí tuệ và lòng bi, mà tất cả sách Phật đều nói mình cần cả hai kết hợp với nhau. Vậy thì phải xem xét điều đó một cách nghiêm túc. Có được cả hai yếu tố này là điều quan trọng, không chỉ với quy y, mà còn với bất cứ điều gì trong giáo pháp.

Câu trả lời thường được đưa ra trong giáo pháp là chúng ta cần tích lũy nhiều công đức. Vậy thì phải suy nghĩ, “Điều này có nghĩa là gì? Có phải là nếu mình tích lũy đủ điểm bằng cách làm người tốt, thì bây giờ mình mới xứng đáng và có được nó?”. Chắc chắn là không có nghĩa như vậy. “Công đức” được dịch chính xác hơn là “lực tích cực”, giống như sạc pin. Pin sẽ làm việc, khi có đủ điện tích; tương tự như vậy, với đầy đủ lực tích cực, thì tâm mình sẽ làm việc đàng hoàng, để có tự tin về cả hai sự hiểu biết về mặt trí thức và cảm xúc về giáo pháp.

Vậy làm thế nào để tích lũy cái gọi là “công đức” này? Chúng ta tích lũy nó bằng cách hành trì lòng bi, chẳng hạn. Thiền quán với lòng từ, lòng bi, quan tâm đến người khác, v.v., sẽ xây dựng lực tích cực này. Một cách cụ thể để phát triển nó là thiền quán về tứ vô lượng tâm – từ, bi, hỷ và xả vô lượng. Hầu như ở phần đầu trong mỗi hành trì đều có những bài thiền về quy y, bồ đề tâm và tứ vô lượng tâm này. Với tứ vô lượng tâm, chúng ta sẽ thiền, “Nguyện cho tất cả chúng sinh được hạnh phúc; nguyện cho tất cả đều thoát khổ. Nguyện cho họ không bao giờ xa rời tâm hỷ lạc; và nguyện cho tất cả đều có tâm bình đẳng, thoát khỏi tham ái và ghét bỏ, có thể cản trở những thành tựu này.”.

Bài thiền này sẽ làm gì? Nó mở rộng tâm hồn và trí óc của mình bằng cảm xúc tích cực. Rồi với tâm trạng đó, khi tiếp cận một điểm phức tạp nào đó trong giáo pháp, chúng ta sẽ cởi mở hơn và có khả năng hiểu tốt hơn. Có một sự khác biệt lớn giữa việc tiếp cận điều khó hiểu với tâm khép kín theo kiểu “mình, mình, mình, tôi không thể hiểu được” hoặc “tôi phải hiểu được”, và việc tiếp cận nó với tâm hồn và trí óc được mở rộng từ trước bằng tứ vô lượng tâm. Có một sự khác biệt lớn!

Vậy thì hãy thử những bài thiền này và xem có sự khác biệt nào không. Rồi mình có thể hiểu tại sao bài thiền tứ vô lượng tâm lại nằm ở phần đầu trong mỗi buổi tu học. Nó tích tập lực tích cực, mở rộng tâm thức và lòng mình, để có thể thấu hiểu một cách trọn vẹn. Và sự hiểu biết của chúng ta sẽ có một vài tác động về mặt cảm xúc.

Tôi có một vài câu hỏi. Thứ nhất, làm thế nào để tìm được sự quân bình thích hợp giữa lòng bi cho người khác và lòng bi cho chính mình trong các tình huống xung đột? Thứ hai, tôi có hiểu đúng hay không, rằng điểm mấu chốt ở đây trong các cuộc xung đột không phải là tức giận, mà là vẫn có thể giữ vững ranh giới và lợi ích của mình? Và một điểm nữa về điều này là, nếu bạn không sửa sai người khác, bạn sẽ tức giận, nhưng nếu bạn sửa sai họ, thì họ có thể tức giận, điều mà chúng ta đang cố gắng khắc phục trong bản thân mình?

Đây là một ví dụ rất cụ thể: Tôi có một cậu con trai đang ở độ tuổi thiếu niên và mỗi ngày trước khi đi làm, tôi chuẩn bị hai phần ăn cho cả hai khi về nhà, một phần cho con và một phần cho tôi. Tôi về nhà sau khi con tôi đã về và thấy nó đã ăn hết cả hai phần. Rồi ngày hôm sau, chuyện tương tự lại xảy ra. Câu hỏi đặt ra là: Tôi có nên nói với con tôi về chuyện này, giải thích cho nó hiểu và kiên quyết yêu cầu nó chỉ ăn một phần không? Bởi vì nếu tôi làm như vậy, thì nó sẽ cảm thấy khó chịu.

Chúng ta có thể nói chung chung, hoặc có thể đề cập đến ví dụ cụ thể này. Trong ví dụ cụ thể này, nếu con trai bạn ăn cả hai phần, điều đó cho thấy một là cậu bé thật sự đói, hai là cậu bé rất tham ăn. Vì vậy, nếu cậu bé thật sự đói, thì hãy nấu thêm thức ăn. Nếu cậu bé chỉ tham ăn, thì bạn phải chia phần. Hãy để dành một phần cho con trai bạn, với thức ăn vừa đủ để nó no, và bằng cách nào đó, hãy giấu phần của bạn. Hãy để nó ở một nơi mà con trai bạn không lấy được. Nếu có lò vi sóng, thì hãy để nó trong ngăn đá của tủ lạnh, và khi về nhà, hãy hâm nóng bằng lò vi sóng. Nói một cách cơ bản thì bạn cần tìm một giải pháp đơn giản, thiết thực.

Vậy thì sử dụng phương tiện thiện xảo? 

Vâng, sử dụng phương tiện thiện xảo. Tuy nhiên, nói chung thì trước khi có thể áp dụng phương tiện thiện xảo với lòng bi, trước tiên, ta phải phát triển lòng bi cho chính mình. Điều đó được gọi là “tâm xả ly” – quyết tâm để giải thoát bản thân khỏi những vấn đề của riêng mình. Chính trên cơ sở đó, ta có thể hướng lòng bi về người khác, ước mong họ cũng không gặp vấn đề. Đây là cách chung để phát triển lòng bi. Nếu cảm thấy mình không đáng được hạnh phúc, thì tại sao người khác lại xứng đáng? Một khi có động lực đúng đắn của lòng bi như vậy, chúng ta có thể áp dụng phương tiện thiện xảo mà không nổi giận.

Tuy nhiên, bạn cũng hỏi thăm về tình huống xung đột. Có những tình huống xung đột mà mình có một ý kiến, người kia có một ý kiến, và hai ý kiến khá khác nhau; đó là lúc mình có thể có xung đột hay tranh cãi. Hiện giờ, một số lời khuyên để giải quyết xung đột nói chung – chiến lược không hiệu quả là thủ thế và bảo vệ lập trường của mình. Điều đó chắc chắn đưa đến việc tấn công lập trường của đối phương, khiến họ cũng thủ thế. Điều này không giúp ích gì; nó chỉ khiến cho mình rơi vào một cuộc tranh cãi thật sự. Thế thì chiến thuật được khuyến nghị, và thường hiệu quả, là khi người kia đưa ra một giải pháp hoàn toàn khác biệt, hay cách làm hoàn toàn khác, mình sẽ yêu cầu họ giải thích. Có thể họ đúng! Mình sẽ cố gắng học hỏi điều gì đằng sau suy nghĩ và lập trường của họ. Theo ý nghĩa nào đó thì mình cởi mở hơn, thay vì khép kín và thủ thế.

Khi mình cởi mở để học hỏi quan điểm của họ là gì, và tại sao họ lại nghĩ như thế. Nếu vẫn cảm thấy quan điểm của mình tốt hơn, thì ta sẽ giải thích suy nghĩ của mình một cách bình tĩnh, chứ không chỉ nói, “Tôi đúng và bạn sai.”.

Tuy nhiên, không phải điều này luôn luôn hữu hiệu, vì người kia phải cởi mở để cho và nhận lời giải thích. Có thể họ rất cứng đầu và nói rằng, “Bạn không thể hiểu đâu”, hay là “Tôi chỉ nghĩ như vậy”. Rồi thì đó là tình huống rất khó khăn, nên không phải lúc nào cũng hữu hiệu. Người kia cũng phải hợp tác nữa. Tuy nhiên, với phương pháp mà tôi đề nghị, ít nhất là mình có thể bình tĩnh. Đó là sự khởi đầu.

Top